Hoàng Tuấn Photographer

người xứ Nẩu
yêu văn nghệ, yêu cái đẹp...và
" Tôi yêu thành phố của tôi
.......yêu từ khi mới ra đời...hì hì

Nhân cách là vấn đề lớn của thời đại*

hoangtuanqn | 03 November, 2011 23:15

Hào khí Tây Sơn tỏa núi sông                    ảnh Hoàng Tuấn

Tham luận của Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm tại Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung.

LẠM BÀN VỀ THƠ VIỆT HÔM NAY

Xin dùng chữ “ lạm bàn” vì đã mượn hội thảo thơ miền Trung để nói về thơ Việt. Thêm một lẽ nữa, nói đến thơ Việt thì rất rộng lớn mà bài viết chỉ muốn đề cập một vài khía cạnh được cho là quan trọng.

1. Trước hết là lịch sử. Các nhà sử học hiện đại thường coi lịch sử dân tộc là lịch sử của lòng yêu nước và xem đó là “sợi chỉ đỏ” của hành trình dân tộc. Trong chừng mực nhất định, quan niệm đó không khỏi đơn giản hóa lịch sử, đã và sẽ đẻ ra nhiều hậu quả chưa lường được.

Đành rằng chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc có ý nghĩa to lớn trong dựng nước và giữ nước. Tuy nhiên trong hàng ngàn, hàng vạn năm không có chiến tranh, trận mạc, lúc đó lòng yêu nước trở thành “viên ngọc quý, được cất giữ trong rương trong hòm”, thì cái mà người Việt vẫn dựa vào để tồn tại vững vàng qua mỗi ngày lại là nhân cách Việt. Đó là tất cả những giá trị giúp con người tồn tại như một nhân cách xứng đáng, trong khuôn khổ cộng đồng Việt, tạm gọi là nhân cách Việt. Theo tôi, nghĩa vụ của sử học, văn hóa học, văn học là làm sáng tỏ nhân cách Việt qua hàng ngàn năm lịch sử và văn hiến nước nhà, như chúng ta từng giải mã chủ nghĩa yêu nước dân tộc. Theo nghĩa đó, có thể xem truyện Trạng Quỳnh là biểu tượng về nhân cách Việt, hơn là tinh thần phản phong và chống ngoại xâm như ta thường giải thích. Và “Hịch tướng sĩ văn” của Trần Hưng Đạo là lời nhắc nhở, cỗ vũ cho nhân cách Việt của một nhà quân sự đồng thời là một nhà chính trị tài ba đã làm bật lên sức mạnh người Việt. Chính sự kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước và nhân cách Việt ở đời Trần đã đem lại cho quân dân ta sĩ khí có một không hai, đầy dũng mãnh mà mưu lược, gan góc mà lạc quan, lúc hiểm nguy vẫn ung dung bền chí. Không có thời nào nhiều tấm gương đẹp về nhân cách như thời đó. 

Nhớ lại những năm 30 của thế kỷ trước, ta mất tự do độc lập, đó là nỗi đau lớn của mỗi người Việt. Tuy nhiên lật lại hàng chục tờ báo ngày đó chúng ta không thấy người Việt có vấn đề nhân cách, đạo đức, lối sống gay gắt như bây giờ hoặc nếu có thì cũng bị phê phán không thương tiếc. Phải chăng với nhân cách cứng mạnh đó cộng thêm lòng yêu nước được phát động mà dân ta quật khởi đập tan ách thực dân và bộ máy phong kiến vào năm 1945 ? Ngày đó, có biết bao bậc sĩ phu, những nhà nho yêu nước, những người cộng sản, những trí thức lỗi lạc, những nhà văn, những nghệ sĩ, nhà báo, nhà giáo đã làm việc hết mình vì phẩm chất và nhân cách Việt để có một dân tộc đầy súc mạnh, “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” ? Tôi nghĩ đời nào cũng vậy, giáo dục lòng yêu nước và xây dựng nhân cách Việt là vấn đề có ý nghĩa sống còn của dân tộc ta.

2. Ngày nay, nhân cách là vấn đề lớn của thời đại. Do thuận lợi của thời thế, một người bây giờ có thể hiểu biết rất nhiều, nhưng anh ta vẫn có thể không đủ nhân cách để làm điều tốt đẹp, nhiều khi còn làm điều xấu. Vì vậy mệnh lệnh của thời đại là mệnh lệnh về nhân cách. Cái đập mắt mỗi người Việt nam  khi ra đường hôm nay là những vấn đề nhân cách. Nỗi lo âu của mỗi bà mẹ là sợ con hư. Nỗi sợ của người già là không tìm được sự cảm thông giữa các thế hệ. Nỗi sợ của nhà giáo dục là sợ học trò nói hỗn. Những cơ sở chăm lo cho nhân cách con người đều suy yếu, xuống cấp : trường học, sách báo, nhà hát, vườn trẻ , các hội đoàn … Nỗi lo đè lên mọi người. Bảo vệ dân tộc trước hết là bảo vệ con người Việt nam trên biên giới của nhân cách và mất nhân cách. Quả thật, những con người mạnh, một dân tộc mạnh chính là tư tưởng sâu rễ bền gốc của Đức Trần Hưng Đạo.

3. Thơ ca phải lên tiếng, phải đến với vấn đề nhân cách cá nhân, phẩm cách của dân tộc và phải tự mình trở thành nhân cách. Thơ Đường lớn không phải vì nó là đứa con của một thời đại thịnh trị, mà chính vì ở những đại diện lớn nhất của nó đã dám viết : “ Cửa son rượu thịt ôi / Ngoài đường xương chết rét” (Đỗ Phủ). Đó là nền thi ca của những nhân cách và tài năng lớn. Đó là nền thi ca giàu phẩm hạnh.

Tôi tin thơ hiện đại Việt nam nhất định sẽ vươn tới một sự kết tinh mới, bền vững trong sứ mệnh phát huy nhân cách Việt.

Nguyễn Khoa Điềm

* HT thích rút tít này, xin tác giả thứ lỗi

Dâng trà

hoangtuanqn | 25 October, 2011 19:55

đồng quê                                                      ảnh Hoàng Tuấn

Dâng trà

Thưa cha, con đã dâng trà

Chiều quê một nửa mái nhà nắng đi

Làng nghèo ngồi đếm chim ri

Còn nghèo con đếm thầm thì trong mơ

Con sao tìm lại ấu thơ

Mà roi cha vẫn gác hờ mái hiên

Con từng ba dại bảy điên

Chén trà còn rót tràn niềm đắng cay

Phận con nhàu trọn lòng tay

một câu thơ bạc một ngày vô ơn

Chén trà, con có gì hơn

 

Thưa cha, con đã dâng trà

Sao cha im lặng như là bóng mây

Để hồn trà khuất đâu đây

Xác trà lạnh ngắt đổ đầy lòng con…

Nguyễn Quang Thiều 

MIỀN TRUNG, DẢI ĐẤT HẸP MỞ RA KHUNG CỬA RỘNG

hoangtuanqn | 19 October, 2011 20:39

Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng một lần thăm núi Đá Bia

Tham luận của Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng tại Hội thảo thơ Việt Nam hiện đại nhìn từ miền Trung vào 8 – 10 – 2011 tại Sầm Sơn (Thanh Hóa): MIỀN TRUNG, DẢI ĐẤT HẸP MỞ RA KHUNG CỬA RỘNG

Đối với thơ, tôi nghĩ, chung quy là thơ Việt, còn sự phân định Bắc Trung Nam chủ yếu là ở phương diện hành chính tổ chức nhiều hơn. Tuy nhiên, mỗi nhà thơ mang trong tim một quê hương bản quán, bên cạnh đó là yếu tố vùng, miền, nơi có sự tham dự của những điều kiện địa lý tự nhiên, đặc thù cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố  sắc tộc dân cư… mà các nhà văn hóa học thường gọi bằng khái niệm địa- văn hóa. Hơn nữa, diễn trình lịch sử văn hóa trên một thung thổ cụ thể góp phần kiến thiết cho phong vận một miền đất cũng như dấu ấn mỗi cá nhân trong một cộng đồng. Ý nghĩa quê hương và vùng miền là ở chỗ cá thể sáng tạo mang bản sắc vùng miền nhập vào dòng chảy quốc gia dân tộc,  nên vấn đề chúng ta đặt ra ở đây, tôi nghĩ có lẽ đã bao hàm hai khía cạnh: thơ Việt nhìn từ miền Trung và miền Trung nhìn từ thơ Việt.

Miền Trung là dải đất hẹp và dài, núi non điệp trùng chồm ra biển cả, sông ngắn và dốc, khác với sự tha thướt của đồng bằng Bắc Bộ và cái mênh mang của châu thổ sông Cửu Long. Âm vọng châu xưa Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính của Chiêm Thành trong tiềm thức lịch sử, đó chính là Quảng Bình đến bắc Quảng Trị hôm nay. Tiếp theo, mảnh đất sính lễ của Chế Mân dẫn cưới Huyền Trân công chúa năm 1306 là hai châu Ô, Lý, từ nam Quảng Trị vào đến bắc sông Thu Bồn Quảng Nam. Và âm vọng những Amaravati, Vijaya, Kauthara,  Panduranga, Virapura ở phía Nam . Miền Trung nước Việt, đất “trẻ” nhất ở cực Nam khoảng hơn ba trăm năm thời các chúa Nguyễn, và đất “già” nhất ở cực Bắc đã từng lung linh trong tiếng trống vua Hùng! Nếu kể khúc chiết thì vùng Thanh Nghệ Tĩnh thuộc đất Việt cổ, có những cư dân đặc biệt như chàng An Tiêm ra lập nghiệp trên hoang đảo Nga Sơn, như nàng Mỵ Châu rắc lông ngỗng sau lưng ngựa An Dương Vương cho đến cửa bể Diễn Châu, còn phía Nam lại là nơi đăng ký hộ tịch những vũ nữ Trà Kiệu, Chiêm nương Đồ Bàn…

Ngay thời nhà Trần, vua phải đặt ra danh hiệu cho việc thi cử, gồm “Kinh Trạng nguyên” cho những sĩ tử từ Ninh Bình trở ra và “Trại Trạng nguyên” cho xứ Thanh trở vào để khuyến khích “vùng phên giậu”. Đến thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly lại cho xây thành Tây Đô ở Thanh Hóa. Thời Lê sơ, Thanh Hóa lại là quê hương của khởi nghĩa Lam Sơn và khi nắm chính quyền, nhà Lê dựng Lam Kinh ở đây. Vai trò tập hợp văn chương của đất nước đương nhiên vẫn là Thăng Long, nhưng hình ảnh “đất biên viễn” không hề xa lạ với cả nước nữa, qua vai trò của các dòng họ đế vương cũng như những nhân tài văn chương phát tích trên đất này. Lật lại Hoàng Việt thi tuyển của Tồn Am Bùi Huy Bích, là một cuốn tuyển thơ tám thế kỷ đầu Lý đến cuối Lê, nhiều tác giả như Lê Quát (thời Trần), Hồ Tông Thốc (thời Hồ), Đặng Dung (thời Hậu Trần), Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Hoàng Trừng, Nguyễn Nghiễm, Phạm Nguyễn Du… (thời Lê) là các tác gia có gốc gác từ cái địa danh mà hôm nay chúng ta gọi là “miền Trung”. Đặc biệt ở thế kỷ XV là vai trò vua Lê Thánh Tông, Tao Đàn nguyên súy, một người đứng đầu đất nước kiêm luôn “Chủ tịch Hội Nhà văn Đại Việt”. Và Lê Thánh Tông chính là người xuống chiếu giải oan cho thảm án Lệ Chi Viên, cho sưu tầm lại văn chương Ức Trai để lưu lại hậu thế. Lê Thánh Tông còn thân chinh vào tận Đồ Bàn, xác định cương giới đất nước đến đèo Cù Mông, tỉnh Bình Định ngày nay. Vùng non nước mà hôm nay chúng ta gọi là miền Trung đã in bóng hào sảng trong hai tập Chinh Tây kỷ hànhMinh lương cẩm tú, thơ “thanh gươm yên ngựa” của nhà vua đi chinh phục đất mới.

Sự hình thành và phát triển miền Trung có những cuộc hội tụ lớn của lịch sử và qua đó, mở ra những lối đi mới trên bước chân văn hóa Đại Việt, ở các giai đoạn trên một bình diện địa cuộc đặc thù. Cầm dòng sông Gianh thời Trịnh Nguyễn phân tranh mà đặt lên lòng tay, mặt bên này chúng ta sẽ nhận ra bao nhiêu máu xương nhân dân đổ xuống cuộc tranh bá đồ vương của các tập đoàn phong kiến nhưng ở mặt bên kia của vấn đề, ta cũng nhận ra trên gương mặt sâu thẳm ấy nhiệm vụ chứng nhân của một cú hích quan trọng trong số phận lịch sử Việt Nam. Vai trò của miền Trung đã hình thành từ thời Đàng Trong, qua sự nghiệp mở cõi các chúa Nguyễn, qua phong trào nông dân Tây Sơn, qua kinh đô Huế, triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Theo di sản, có thể nhìn nhận rằng những thế  kỷ Đàng Trong là cuộc hội tụ thứ nhất, khi dấu chân Giao Chỉ tiến dần từ Bắc về Nam . Những tác gia như Dương Văn An, Đào Duy Từ, Nguyễn Khoa Chiêm,  Nguyễn Cư Trinh, Ngô Thế Lân... còn để lại các tác phẩm quan trọng mà khi nghiên cứu văn học giai đoạn này không thể thiếu. Đọc chuyên khảo Văn học Đàng Trong của Cao Tự Thanh[1], tôi rất lưu tâm với ý kiến rằng: “ Bởi vì tuy có thời gian dài nhất (1600 - 1777), đây là bộ phận mà tư liệu còn lại ít nhất, nhưng lại là bộ phận mang nhiều biệt sắc nhất trong văn học viết dân tộc thời phong kiến từ hoàn cảnh phát sinh tới quá trình phát triển, từ nội dung tư tưởng tới hình thức nghệ thuật,  từ cơ cấu lực lượng sáng tác tới phương thức hoạt động văn chương…” Khi Nguyễn Hoàng gồng gánh câu sấm Trạng Trình “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” lên đường vào Nam nửa cuối thế kỷ XVI, biên giới Đại Việt mới chỉ đến đèo Cù Mông và mảnh đất mang tên Bình Định ngày nay chính là vùng phên giậu của đất nước thời ấy. Từ Nam sông Gianh trở vào, hai tiếng “Đàng Trong” (phân định với Đàng Ngoài) sau đó là Nam Hà (phân định với Bắc Hà) bắt đầu hình thành và phát triển, riêng về mặt địa giới chỉ vài thế kỷ đã kéo đến mũi Cà Mau.  Đọc lại Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm, chúng ta gặp lại gương mặt miền Trung thế kỷ XVI, XVII với cơ nghiệp chúa Nguyễn, những cuộc thiên di và tụ cư, lịch sử hình thành Đàng Trong. Trong đó, không thiếu những dòng họ văn chương nổi tiếng từ Đàng Ngoài vượt qua sông Gianh dựng nghiệp.  

Một cuộc hội tụ khác, cuộc hội tụ của nhà Tây Sơn, Đàng Trong là nơi đã phát tích cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc với vị anh hùng áo vải cờ đào Nguyễn Huệ - Quang Trung, sự nghiệp chấn hưng văn hóa trong công cuộc dựng nước và giữ nước dù ngắn ngủi, nhưng có ảnh hưởng không nhỏ. Có một dòng văn học mà các nhà nghiên cứu gọi là “văn học thời Tây Sơn” tập trung các danh gia đương thời như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp, Lê Ngọc Hân, Nguyễn Huy Lượng, Ngô Ngọc Du, Nguyễn Đề, Hồ Xuân Hương, Ninh Tốn, Đoàn Nguyễn Tuấn… Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái là cuốn sách có thể xem như chứng nhân lịch sử có giá trị đặc biệt ở giai đoạn này, trong đó có phản ánh rõ nét cuộc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung.

Khi nói đến văn học Việt nhìn từ miền Trung hay thơ Việt nhìn từ miền Trung, có lẽ phải đặt  tầm mắt trong mối liên hệ với hai đầu Bắc Nam. Sau thời kỳ Đàng Trong, đầu thế kỷ XIX Huế trở thành kinh đô của nước Việt Nam thống nhất. Vai trò của địa cuộc miền Trung đã khác, nụ cười nước mắt cũng không còn như thời nếm mật nằm gai của một khu vực mà đã cầm nắm vận mệnh quốc gia. Đây là cuộc hội ngộ thứ ba, khi thấp thoáng bên núi Ngự sông Hương, đã từng in bóng Nguyễn Du (1765- 1820), người miền Trung, Cao Bá Quát (1809- 1855), người miền Bắc và Nguyễn Đình Chiểu (1822- 1888), người miền Nam. Nguyễn Du trước khi làm quan nhà Nguyễn đã có thời gian luân lạc trên đất Bắc, Cao Bá Quát cũng làm quan nhà Nguyễn nhưng sau đó về Bắc khởi nghĩa chống triều đình, còn Nguyễn Đình Chiểu có quê gốc Thừa Thiên Huế, sau thời gian lận đận với khoa danh lều chõng đất thần kinh, trở về Lục tỉnh và tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của ông trở thành biểu tượng của sĩ khí Nam Bộ. Đây là ba nhà thơ mỗi người một hành trạng, người giương cờ nghĩa chống triều đình, người ẩn nhẫn giữa chốn quan trường, người sống hòa lẫn cùng thảo dân và đều có ảnh hưởng rất rộng lớn trong đời sống văn hóa dân tộc. Về nghiệp chữ nghĩa, chỉ có thể dùng từ “thỏa chí” để diễn đạt tâm thế con người và hoạt động văn chương của họ, những nhà thơ mà tài năng và tâm huyết có thể lay động cả đất trời! Nhân vật của Nguyễn Du là nàng Kiều và Nguyễn Đình Chiểu là chàng Lục Vân Tiên đã bước từ trang thơ ra đời sống thường ngày, còn những giai thoại về Cao Chu Thần đã thực sự tỏa hào quang trong tâm thức những người không khuất phục trước bạo quyền.

Ở giai đoạn này, không thể không nhắc đến các tác gia hoàng tộc như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Thành Thái, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Ưng Bình Thúc Dạ Thị, Đạm Phương nữ sử…, những tác gia trong lớp áo quan trường như Nguyễn Công Trứ, Đào Tấn, Trương Đăng Quế, , Nguyễn Bá Trác, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hòe  (tác giả Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc)… , những tác gia là chí sĩ miền Trung như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Tăng Bạt Hổ, Võ Liêm Sơn…, những tác gia cả nước tụ về như Nguyễn Khuyến, Bà Huyện Thanh Quan, Kiều Oánh Mậu…Một tác gia quan trọng của đất nước thế kỷ XIX là Phan Huy Chú với bộ Lịch triều hiến chương loại chí, có thể xem là bộ bách khoa thư của đất nước, trong đó có phần Văn tịch chí thống kê những số liệu văn chương mà nước ta đã có từ xưa cho đến thời điểm đó. Ngoài ra, đây cũng là thời kỳ phát triển mạnh mẽ về văn học kịch, khẳng định miền Trung một đặc sản Hát Bội, bên cạnh Chèo của miền Bắc và Cải lương của miền Nam.

Tìm hiểu dòng chảy trong mát của văn chương quốc âm, chúng ta nhận thấy đóng góp của miền Trung của sự hình thành và phát triển tiếng Việt. Một vị vua gốc miền Trung là Hồ Quý Ly đã coi trọng chữ Nôm, soạn sách Thi nghĩa và dịch thiên Vô dật ra quốc âm phổ biến trong triều, đồng thời đề cao thực tài, chống lối từ chương. Những điều này là động thái mở màn, ít nhiều tác động trong việc hình thành và phát triển thơ Nôm như sự ra đời Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi sau đó. Một vị vua khác, Lê Thánh Tông đã làm thơ Nôm với Hồng Đức quốc âm thi tập…Đến nhà Tây Sơn, vua Quang Trung chủ trương dùng chữ Nôm trong các văn bản nhà nước, và nhà vua còn ngẫu hứng phê đơn bằng thơ lục bát. Bối cảnh một vương quốc vua chúa trọng quốc âm như thế không phải là không có mối liên hệ đến sự nở rộ các kiệt tác chữ Nôm với tên tuổi Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương … và các truyện Nôm khuyết danh. Ở thế kỷ XVII, một điểm liên quan đến sự hình thành và phát triển chữ quốc ngữ ở Đàng Trong là sự xuất hiện của giáo sĩ Alecxandre De Rhodes và những người góp phần La tinh hóa tiếng Việt từ Hội An đến cảng thị Nước Mặn, khu đô thị phồn vinh của phủ Quy Nhơn thế kỷ XVII. Alecxandre De Rhodes cho xuất bản tại Roma hai tác phẩm rất quan trọng trong lịch sử tiếng Việt Nam : cuốn Từ diển Việt-Bồ-La và cuốn Phép Giảng Tám Ngày Cho Kẻ Muốn Chịu Phép Rửa Tội Mà Vào Ðạo Thánh Ðức Chuá Trời năm 1651[2]. Gần 2 thế kỷ sau, năm 1838 cuốn Từ điển La-Việt của Taberd ra đời[3]. Sự kiện Latinh hóa tiếng Việt là tiền đề mở ra cho vai trò chữ quốc ngữ sau này, khi các khoa thi Hán học kết thúc đầu thế kỷ XX. Sắc luật đưa chữ quốc ngữ vào các kỳ thi do toàn quyền Paul Doumer ký từ năm 1898; trên thực tế được áp dụng vào năm 1909. Năm 1917, một chỉ dụ của triều đình bãi bỏ lối giáo dục Nho học Hán văn truyền thống và thay bằng một nền giáo dục dựa vào chữ quốc ngữ và Pháp ngữ. Tiếp theo dòng văn Nôm rạng rỡ, văn học quốc ngữ ra đời. Song song với phong trào Thơ Mới, Tự lực văn đoàn ra đời với tôn chỉ mục đích: "Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. Theo chủ nghĩa bình dân, không có tính cách trưởng giả quý phái. Tôn trọng tự do cá nhân. Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa. Đem phương pháp Thái Tây áp dụng vào văn chương An Nam ." Với quan điểm tiến bộ ấy, không thể không kể đến vai trò của một dòng họ Hải Dương gốc Quảng Nam, họ Nguyễn Tường với Nhất Linh, Thạch Lam, Hoàng Đạo và một nhà thơ miền Trung - Xuân Diệu, cùng những người bạn trên đất Bắc Khái Hưng, Thế Lữ, Tú Mỡ, Trần Tiêu xây dựng và có đóng góp đáng kể trong sự phát triển văn chương quốc ngữ. Vào thời kỳ Thơ Mới, những tên tuổi nhiều nhà thơ miền Trung đã ghi lại một dấu ấn khó phai mờ trong tiến trình phát triển thơ mới, tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam . Trong Thi nhân Việt Nam , Phan Khôi đã được vinh danh là người tiên phong trong phong trào Thơ Mới với bài thơ “Tình già”. Hoài Thanh và Hoài Chân đã chọn được 46 nhà thơ trong hợp tuyển của một phong trào, riêng miền Trung đến 25 tác giả: Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Yến Lan, Quách Tấn, Tế Hanh, Bích Khê, Thanh Tịnh, Lan Sơn, Nguyễn Vỹ, Phạm Hầu, Xuân Tâm, Thu Hồng, Nam Trân, Thái Can, Lưu Kỳ Linh, Phan Khắc Khoan, Phan Văn Dật, Hằng Phương, Mộng Huyền, Nguyễn Đình Thư, Phan Thanh Phước, Thúc Tề.

Nhắc lại khái niệm địa văn hóa, tôi cho rằng ở phương diện này, đặc sản miền Trung là…đèo. Và câu đề từ cho vấn đề này không thể không mượn của bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương: “Một đèo một đèo lại một đèo”, nói về đèo Ba Dội, bắt đầu bên kia là Bắc bên này là Trung. Chẳng thế mà Bà Huyện Thanh Quan, nữ sĩ gốc Bắc trên đường vào kinh đô Huế đã xúc cảm và “sở hữu chủ” ngay một con đèo, Qua đèo Ngang thổn thức bao thế hệ. Sau này, người thơ được cõi thơ “cấp sổ đỏ” đèo Cả, không ai khác hơn là nhà thơ xứ Thanh, Hữu Loan. Cho dù nhà thơ Hữu Loan đã “sở hữu chủ” những đồi hoa sim, một hình ảnh lay động đến quặn lòng trong mối tình bi thiết, một trong những bài thơ tình có ảnh hưởng nhất của thế kỷ, trong một bối cảnh thơ đậm đặc hình ảnh buồn và đẹp trung châu miền Trung. Giai đoạn này, không thể không nói đến dòng thơ thời chống Pháp, phát tích từ Bắc Trung Bộ với Trần  Mai Ninh (Nhớ máu, Tình sông núi), với Hồng Nguyên (Nhớ), với Thôi Hữu (Lên Cấm Sơn), với Hoàng Trung Thông (Bài ca vỡ đất, Bao giờ trở lại), với Trần Hữu Thung (Thăm lúa), với Minh Huệ (Đêm nay Bác không ngủ), với Lương An (Cô lái đò)… Đây cũng thực sự là cuộc hội tụ khu IV, kẻ Bắc người Trung, dưới một mái nhà văn nghệ kháng chiến ở xứ Thanh: Đặng Thai Mai, Tố Hữu, Hải Triều, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Lạp, Mạnh Phú Tư, Chế Lan Viên, Vũ Ngọc Phan, Lưu Trọng Lư, Đồ Phồn, Huyền Kiêu, Hoàng Xuân Nhị, Hoàng Trung Thông…

Đặc sản thứ hai là một bên duyên hải gió và cát Gió Lào cát trắng, một bên dãy Trường Sơn “mái nhà của Đông Dương”. Cao Bá Quát đã Sa hành đoản ca: “Trường sa phục trường sa- Nhất bộ nhất hồi bước” (Bãi cát, bãi cát dài- Mỗi bước lại như lùi). Nó cũng giống như gió Lào của Chế Lan Viên: “Ôi gió Lào ơi ngươi đừng thổi nữa- Những ruộng đói mùa những đồng đói cỏ”. Sau sông Gianh, dòng sông thứ hai của Bắc miền Trung, sông Bến Hải đã đảm nhận vai trò biên giới của “ngày Bắc đêm Nam ”. Hai tiếng “miền Trung” đến thời điểm 1954, một nửa đã hòa vào “miền Bắc”, một nửa hóa thân vào “miền Nam”. Bên cạnh những đoàn quân trùng trùng ra trận “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, là những cuộc hội ngộ của bao nhiêu cây bút từ miền Bắc đi vào, từ miền Nam trở ra. “Trời vẫn xanh một mầu xanh Quảng Trị- Tận chân trời mây núi có chia đâu”, câu thơ của Tế Hanh đã khái quát nỗi lòng khát khao thống nhất nước nhà của cả dân tộc. Những hình ảnh tuyến lửa khu IV in đậm trong thơ Bằng Việt, Xuân Quỳnh…Rừng núi Trường Sơn mạch nguồn của những sử thi Đam San, Xing Nhã, của những “mái nhà dài như tiếng hú” và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, những năm tháng chống Mỹ đã che chở cho những Vầng trăng quầng lửa của Phạm Tiến Duật, Chuyến đò đêm giáp ranh, của Hữu Thỉnh, Lá đỏ của Nguyễn Đình Thi… Đặc biệt là Trường Sơn thời điểm này đã nuôi dưỡng mạch cảm hứng sử thi bùng nổ trong trường ca Việt trong và sau cuộc chiến, như cuộc hôn phối định mệnh giữa văn chương và lịch sử, hiếm có thời điểm nào lặp lại. Từ một hợp xướng đến sự thức tỉnh ý thức thân phận con người, những tìm tòi đa phong cách đa giọng điệu là bước chuyển động vừa ngấm ngầm vừa quyết liệt của thơ ca giai đoạn này. Chúng ta biết đến một miền Trung trong văn xuôi của các nhà văn: Phan Tứ, Nguyên Ngọc, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Chí Trung, Chu Cẩm Phong, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Trí Huân, Dương Thị Xuân Quý, Xuân Đức, Tô Nhuận Vỹ, Cao Duy Thảo, Trung Trung Đỉnh, Y Điêng, Hồng Nhu, Nguyễn Bảo, Nguyễn Quang Hà, Nguyễn Quang Lập, Đức Ban, Kiều Vượng, Hoàng Bình Trọng, Hữu Phương … chúng ta cũng biết đến một miền Trung của các nhà thơ: Khương Hữu Dụng, Phạm Hổ, Phùng Quán, Giang Nam, Thanh Hải, Xuân Hoàng, Vương Linh, Nguyễn Xuân Thâm, Nguyễn Viết Lãm, Vương Trọng, Thu Bồn, Ngọc Anh, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Ý Nhi, Anh Ngọc, Dương Hương Ly,Trần Mạnh Hảo, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Thạch Quỳ, Lưu Quang Vũ, Ngô Thế Oanh, Thanh Quế, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Mỹ, Trần Vũ Mai, Phan Minh Đạo, Mai Ngọc Thanh, Lưu Trùng Dương, Hải Bằng, Lê Thị Mây, Nguyễn Văn Dinh, Văn Lợi, Ngô Minh, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn Hữu Quý, Hải Kỳ, Từ Nguyên Tĩnh… Bên cạnh đó, những nhà thơ trong phong trào học sinh sinh viên: Trần Quang Long, Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân,  Trần Vàng Sao, Lê Văn Ngăn, Thái Ngọc San, Võ Quê… Trong phạm vi tư liệu có hạn, chúng tôi mới điểm chưa đầy đủ. Nhiều nhà thơ Bắc Trung Nam đã đi qua Trường Sơn và để lại những tác phẩm mà nếu có công trình hợp tuyển thống kê đầy đủ, sẽ có một khuôn mặt văn học miền Trung- Tây Nguyên đa dạng hơn trong thời kỳ này.

Nếu ở thời chống Pháp, khu IV có vẻ nhộn nhịp hơn trong việc nối bước chân văn chương ba miền, thì ở thời chống Mỹ, khu V đã đảm nhận một vai trò tập hợp với vai trò chung của cả nửa nước ở phương Nam “từ tuyến đầu Tổ quốc”.

Nói về miền Trung thời Đàng Trong, đương nhiên không thể không nhắc đến việc xác lập chủ quyền biển đảo với đội hùng binh Bãi Cát Vàng, lập bia, tạo miếu, trồng cây và khai thác sản vật trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thời chống Mỹ, song song với đường mòn Hồ Chí Minh là đường Hồ Chí Minh trên biển. Sau này, nhiều nhà văn đất Bắc chia sẻ với không gian biển đảo miền Trung, tiêu biểu là Trần Đăng Khoa, Đình Kính…

Còn một bộ phận tác gia khác ở miền Trung, đó là những người đã sống và hoạt động văn chương trong lòng đô thị miền Nam. Sau 1975, một số tiếp tục ở lại đất nước, từ Quách Tấn, Nguyễn Văn Xuân, Bùi Giáng, Võ Hồng… đến Đỗ Nghê, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Đặng Tấn Tới, Mang Viên Long, Trần Huiền Ân…, một số trở thành những nhà văn hải ngoại: Nguyễn Mộng Giác, Võ Phiến, Nhã Ca, Túy Hồng, Lữ Quỳnh… Xa hơn nữa, có Phạm Văn Ký, tác giả tập thơ “Đường về nước”, người từng đề tựa cho “Gái quê” của Hàn Mặc Tử, đã có những thành tựu ở Pháp bằng tiểu thuyết tiếng Pháp. Khi nghiên cứu văn học Thừa Thiên Huế, nói về những tác gia trong lòng đô thị này, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng băn khoăn về việc “chưa bao giờ được thống kê và đánh giá đầy đủ”(4). Nếu với một công trình nghiên cứu văn học miền Trung một cách toàn diện, nhất thiết không thể thiếu bộ phận tác giả này.

Đặt thơ Việt nhìn từ miền Trung và miền Trung nhìn từ thơ Việt trong từ trường rộng hơn là văn chương nghệ thuật rồi đến không gian địa-chính trị, địa- văn hóa miền Trung qua nhiều thế kỷ, thật ra là quá mênh mang. Nhưng biết làm sao, khi phải dông dài một tí, để nhận ra một đôi điều trong ký ức một vùng đất bây giờ dù không phải là trung tâm của đất nước nữa, nhưng đã, đang và sẽ còn vang bóng bước chân bè bạn hai đầu Bắc Nam. Lần giở những thư tịch cổ, chúng ta bắt gặp ở từng khu vực suốt chiều dài miền Trung không gian văn hóa Đông Sơn, không gian văn hóa Sa Huỳnh, không gian văn hóa Chăm-pa ánh lên những những tia hồi quang của ý nghĩa phát tích, đan xen và giao thoa. Và sông núi miền Trung cũng gói trong ký ức những tiềm tàng lặng lẽ, rằng nền văn minh lúa nước và tơ tằm Đông Nam Á nổi tiếng từ thời sơ sử, đã vận hành trong huyết quản đất đai. Ở đây, đặc biệt có những cuộc giao lưu giữa văn hóa lục địa và văn hóa biển thật đậm đà. Điều đó trở thành truyền thống, trao truyền từ cổ đại qua trung đại cho đến cận hiện đại để đến thế kỷ XXI bây giờ chúng ta tái xác định là “thế kỷ của đại dương”.

Thiên nhiên và lịch sử đã tạo cho người miền Trung những phẩm chất đặc thù so với hai đầu đất nước. Địa hình khúc khuỷu gập ghềnh, một bên núi một bên biển, khí hậu khắc nghiệt cùng những vai trò trong lịch sử đã tạo cho miền Trung không gian văn hóa riêng, ít nhiều mang chứa những thử thách bạo liệt. Ở thời đại Hùng Vương cho đến các triều đại Triệu, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần đã xác lập một nước Việt co giãn từ Bắc miền Trung trở ra. Nhưng cũng từ thời Lý trở đi, vai trò “lĩnh ấn tiên phong” đã được xác lập và không ai khác, miền Trung phải gánh lấy sứ mạng ấy. Về mặt địa hình nước Việt, trước khi ở thế đòn gánh, ban đầu miền Trung dùng dằng ở thế cổ chai. Vai trò “lĩnh ấn tiên phong” của người Việt những thế kỷ mở cõi đã dung thông với vai trò một vùng đất, và vùng đất ấy khoác lên phong vận con người, trong đó phần mẫn cảm thuộc về con người văn chương. Trở về miền Trung trong những thế kỷ thử thách và chinh phục chính là trở về với người Việt đầy khát vọng. Việc tiêu hóa văn minh Trung Ấn, văn minh Đông Nam Á ở những thế kỷ Đàng Trong đã khác. Cuộc va đập, hội ngộ giữa những nền văn minh bản địa cũng đã khác. Sự giao thoa và tiếp biến giữa phương Đông và phương Tây, thực sự là chân trời mới, bắt đầu ở miền Trung truyền thống, qua các cuộc giao lưu giữa văn hóa lục địa và văn hóa biển. Thời Đàng Trong, thực ra đã có hai vương quốc nhỏ trong một vương quốc lớn. Khi các chúa Nguyễn nhìn sự phồn thịnh của xứ sở bằng số lượng các thuyền buôn, con mắt Việt Nam đã đi từ nền kinh tế tiểu nông chuyển sang kinh tế hàng hóa. Khi Lê Quý Đôn vào làm Hiệp trấn xứ Thuận Quảng, thập kỷ thứ 7 của thế kỷ XVIII, ông đã biên soạn Phủ Biên tạp lục, một cuốn sách quý hiếm mà bất cứ ai nghiên cứu lịch sử, văn hóa, văn học Việt giai đoạn này đều có thể làm cẩm nang, đã nói về vấn đề này. Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn khi mô tả sự kiện chúa Nguyễn dời dinh từ Kim Long về Phú Xuân, một đô thị mới ra đời, cũng có một cách nhìn: “Phía ngoài thành thì chợ phố liên tiếp, cây to um tùm, thuyền chài, thuyền buôn đi lại như mắc cửi. Thực là một nơi đô hội lớn, văn vật thanh dung lừng lẫy, đời trước chưa từng có”. Khi đất nước nồi da xáo thịt, Đàng Ngoài vua Lê thành bù nhìn, họ Trịnh tiếm quyền, nhà Mạc lên Cao Bằng, họ Nguyễn ở Đàng Trong đã ly khai để từng bước xây dựng chính quyền mới và hình thái ý thức ít nhiều khác xưa. Khi tư tưởng Khổng Mạnh Lão Trang qua đèo Ngang, vượt sông Gianh, khuôn mặt cũng đã khác. Nhà nghiên cứu LiTana trong bài viết “Một Việt Nam khác? Vương quốc của họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18” đã nhận định thật chính xác: “Những hoàn cảnh như vậy khiến con người cởi mở và tự phát hơn, để trở thành những người dám chịu rủi ro như Nguyễn Hoàng, người mà Keith Taylor đã tinh tế mô tả là “dám mạo hiểm mà không sợ bị quy là phản loạn, bởi vì ông đã tìm thấy một nơi mà chuyện gán ghép này không còn ý nghiã. Đó là một thế giới rộng hơn, và cho con người cảm thức lớn hơn về tự do”. Khi tiếng cười của Trạng Quỳnh, một nhân vật folklore miền Trung cất lên ở Đàng Ngoài bỡn vua cợt chúa, thì ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã không ngừng mướt mồ hôi mở mang và canh tân đất nước. Chỉ tiếc rằng, không phải vua chúa nào của nhà Nguyễn cũng đảm đương được sứ mệnh trọng đại này.

Nhìn từ miền Trung là nhìn những phẩm chất mà lịch sử đã hun đúc, trong những thời điểm không thể lặp lại của dân tộc, đất nước. Không ai đi chứng minh từ những nền văn hóa cổ xưa tích hợp trong văn hóa Việt đa dạng và phong phú đã  tiềm ẩn tiền thân của những hồn thơ vang dội xứ sở này, nhưng người ta có thể tìm thấy trong đó, chút mùi hương của hằng số văn hóa Việt,  văn hóa người Việt miền Trung trong từng thời đại.

 Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam có được dòng văn Nôm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam có được phong trào Thơ Mới. Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam có được dòng thơ đa giọng điệu của nền cảm hứng sử thi và thân phận con người, trong khoảng các thập niên thứ 6, thứ 7 của thế kỷ XX. Đây là thành tựu của cả ba miền, trong đó có những đóng góp quan trọng từ miền Trung. Vấn đề nguồn mạch, theo cách nói của Chế Lan Viên, “đã rời số phận một người để sống số phận một dân tộc. Thơ cũng chuyển địa bàn, đi từ một nhiệm vụ này đến một nhiệm vụ khác, gần kề lịch sử hơn, gần kề chính trị hơn”(5). Sự đóng góp của hương sắc tư tưởng nghệ thuật từ các vùng miền chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó đã dung thông với cả nước, trở thành những giá trị Việt. Khi thực sự là những giá trị của thơ Việt, các định danh miền Bắc hay miền Trung miền Nam chỉ có ý nghĩa gốc gác, chứ không phải cục bộ. 

Bài viết nhỏ này chỉ là những lược thuật sơ sài, thô vụng của một người kiến thức còn nông cạn, mong cung cấp cho hội thảo một vài nét chấm phá về miền Trung. Diện tích các trang thơ và diện tích tâm hồn các nhà thi sĩ(6) nhìn từ miền Trung chắc chưa một công trình nào đo đếm được. Nhưng có thể nói rằng có những giai đoạn, lịch sử đã chọn địa cuộc miền Trung làm điểm tựa, và dải đất hẹp đã mở ra khung cửa rộng…

 Nguyễn Thanh Mừng

------------------

Chú thích:

[1] In trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX những vấn đề lý luận và lịch sử, PGS TS Trần Ngọc Vương - chủ biên, NXB Giáo dục, Hà Nội 2007

[2] Dictionnarium annamiticum, lusitanum et latinum, Roma, S.C. de Propaganda Fide, 1651; tái bản bằng bản chụp với phần phiên dịch Việt ngữ hiện hành: Từ Ðiển Annam- Lusitan- La tinh, TP HCM, NXB Khoa Học Xã Hội, 1991; Catechismus pro ijs, qui volunt suscipere Baptismum, in octo dies divisus. Phép Giảng Tám Ngày..., Roma, S.C. de Propaganda Fide, (1651); tái bản bằng bản chụp với phần dẫn nhập của Nguyễn Khắc Xuyên, phiên dịch Việt ngữ hiện hành do André Marillier và Pháp ngữ do Henri Chappoulie, (TP HCM), Tủ Sách Ðại Kết, 1993.

[3] Jean Louis Taberd: Dictionnarium Annamitico- Latinum, Serampore (Ấn Ðộ), 1938.

(4) Nguyễn Khoa Điềm, Bước đầu tìm hiểu văn học Thừa Thiên-Huế, website Tạp chí Sông Hương 9-2011.

(5) Chế Lan Viên, Thơ văn chọn lọc, Sở VHTT Nghĩa Bình 1987.

(6) Chữ của Chế Lan Viên.

 

Gánh tình

hoangtuanqn | 03 October, 2011 22:40

                                     ảnh Hoàng Tuấn

Gánh tình

Anh về gánh gió bờ mây

Gánh mưa mùa lũ bùn lầy lội trăng

 

Anh về gánh mái nhà tranh

Nước lên lênh láng thuyền dềnh quặn sông

 

Em về tắm gội ngày đông

Môi thâm thâm nụ tình căm căm tình

 

Anh về nhóm lửa ba sinh

Em hơ cái sợi tơ mành giăng giăng

 

Gánh luôn gánh nợ ăn năn

Cầm như gánh gió, gánh trăng-gánh tình.

Hồ Thế Phất.

(Hội VHNT Bình Định)

Phát hiện đồng tiền Nguyễn Nhạc trong mộ phu nhân Thoại Ngọc Hầu

hoangtuanqn | 30 September, 2011 20:15

đồng tiền Minh Đức Thông Bảo của triều Nguyễn Nhạc

Những phát hiện về di vật của Thoại Ngọc Hầu (1761-1829) và phu nhân tại khu di tích lăng miếu núi Sam (An Giang) vừa được công bố ngày 29-9 tại hội nghị Những phát hiện mới về khảo cổ học lần 46.

Độc đáo nhất là khi khai quật hố chôn đồ tùy táng của bà Châu Thị Tế - phu nhân của Thoại Ngọc Hầu, giới khảo cổ thu được một đồng tiền Minh Đức Thông Bảo của triều Nguyễn Nhạc.

Đây là một phát hiện hết sức đặc biệt, vì quan niệm chính trị của nhà Nguyễn vẫn xem nhà Tây Sơn là “ngụy triều”, cho nên việc một vị đại thần của triều Nguyễn đã giữ gìn đồng tiền triều Nguyễn Nhạc, lại chôn cùng theo mộ của phu nhân là điều gợi mở nhiều hướng nghiên cứu cho giới sử học.

Theo TS Phạm Hữu Công - thành viên hội đồng giám định, đồng tiền triều Nguyễn Nhạc xuất hiện trong mộ của phu nhân Thoại Ngọc Hầu “có thể liên quan đến một bí mật lịch sử chưa từng được biết...

Làng quê An Hải (Quảng Nam, nay thuộc Q.Sơn Trà , Đà Nẵng - PV) nơi Thoại Ngọc Hầu sinh ra cũng chính là làng quê sinh ra Thiếu phó Trần Quang Diệu của Tây Sơn. Có lẽ Thoại Ngọc Hầu và bà Châu Thị Tế đã có một mối liên hệ nào đó với phong trào Tây Sơn, nên hai ông bà cố lưu giữ một kỷ niệm là đồng tiền nói trên (dù biết nó có thể gây tai họa) và khi bà Châu Thị Tế mất (năm 1826), ông đã chôn theo bà đồng tiền kỷ niệm này”.

TS Phạm Hữu Công cũng lưu ý một vấn đề quan trọng là hiện vật tùy táng của Thoại Ngọc Hầu được chôn bên ngoài huyệt mộ. Điều này cho thấy có thể có một kiểu chôn đồ tùy táng của thời Nguyễn. “Vì vậy khi khai quật mộ táng cổ, nhất là mộ táng thời Nguyễn, cần hết sức lưu ý vấn đề này, đặc biệt cần có sự thám sát lại đối với những ngôi mộ cổ thời Nguyễn đã khai quật trước đây”.

Công cuộc khai quật đã được tiến hành từ tháng 9-2010 với hai hố khai quật (một tại bên phải phần mộ bà Châu Thị Tế - cách huyệt mộ 40cm, và một hố bên phía trái phần mộ Thoại Ngọc Hầu - cách huyệt mộ 40cm), thu được tổng số 523 hiện vật, được sắp xếp thành nhiều nhóm đồ đồng, đồ gốm, đồ vàng bạc...

Đặc biệt có 33 mảnh trang sức trên chiếc mão quan chánh nhị phẩm là vật liệu quan trọng để phục dựng chiếc mão, góp phần vào việc nghiên cứu phẩm phục thời kỳ đầu triều Nguyễn - nội dung vẫn còn tranh cãi trong học giới do khác biệt ý kiến về hình dáng kiểu mẫu của phẩm phục.

LAM ĐIỀN (Tuổi trẻ) 

Vui với Lê Cát Trọng Lý

hoangtuanqn | 16 September, 2011 21:28

ảnh Hoàng Tuấn

Cô ca sĩ có vóc người nhỏ nhắn, nhưng với âm nhạc thì không nhỏ chút nào Lê Cát Trọng Lý...đã đến với người yêu nhạc TP. biển Quy Nhơn vào đêm ngày 17/9/2011 trong chương trình xuyên Việt "Lê Cát Trọng Lý-Vui". Xin giới thiệu chân dung ca sĩ qua một số hình ảnh Hoàng Tuấn chụp qua cuộc họp báo sáng nay tại Quy Nhơn.

MIỀN TRUNG-GÁNH NẶNG THƠ CA

hoangtuanqn | 04 September, 2011 20:21

Từ trái sang: Nguyễn Trọng Tạo, Trần Dần, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ông Dương trưởng ga Huế, Phùng Quán, Hải Bằng, Nguyễn Văn Phương, X? - Ga Huế 1988 (Tư liệu của NTT)

Tôi cho rằng người Pháp đã khéo chia nước ta thành 3 kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ; không hiểu lúc đó họ có thông thạo Chu dịch và thuyết phong thủy hay không, nhưng sự phân chia ấy đã sớm phân định không chỉ về địa lý mà còn phân định cơ bản về tính cách của con người ở ba vùng đất khá khác biệt này. Nếu sông Hồng màu mỡ phù sa đã mở  ra đồng bằng Bắc Bộ thẳng cánh cò bay, để thơ ca của xứ này luôn mượt mà bay bổng, và sông Cửu Long hào phóng mở ra đồng bằng Nam Bộ với huyền thoại về những “Công tử nông dân Bạc Liêu” để thơ ca ở đây luôn phóng túng rênh rang, thì chính những dòng sông chảy xiết từ núi xuống biển miền Trung đã làm cho thơ ca miền Trung có sức khoan sâu dữ dội và bất ngờ tung vỡ.

Chỉ nhìn về một vạt đất Nghi Xuân bên dòng sông Lam, dưới chân núi Hồng Lĩnh đã thấy 2 ngọn Thi Sơn lừng lững hiện lên từ một vài thế kỷ trước đấy là Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ. Nguyễn Du là sự giao hòa giữa văn hóa miền Trung và văn hóa Kinh Bắc, nên thơ ông dữ dội mà vô cùng uyển chuyển. Nguyễn Công Chứ là một ông quan lãng tử vào Nam ra Bắc, nhưng vẫn giữ nguyên một khí phách miền Trung ngang ngửa dám đùa cùng tạo hóa, làm nên cuộc chơi thi ca có một không hai trong lịch sử tiếng Việt. Nhìn ra bắc sông Lam, ta lại gặp “Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương, độc đáo khôn lường…

Nếu nói rằng thế kỷ XX là thế kỷ cách mạng ngôn ngữ thơ ca, thì chính miền Trung đã đóng góp cho dãy Thi Sơn của thế kỷ này rất nhiều những nhà thơ trụ cột. Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư chính là gương mặt lộng lẫy của THƠ MỚI VIỆT NAM. Tố Hữu như là nhà thơ hàng đầu của thơ ca cách mạng. Trong công cuộc cách tân thơ Việt ở thế kỷ này không thể quên Nguyễn Xuân Sanh cùng nhóm “Xuân thu nhã tập” cảnh tỉnh sự đơn nghĩa trong sáng tạo: và cũng có một Thanh Tâm Tuyền người Vinh đã làm nên nhóm “Sáng Tạo” ở Sài Gòn vào thập niên 60, có tiếng vang nhất định. Tôi cũng rất lấy làm lạ là sau Thơ Mới, lại còn có một Trần Mai Ninh hiện ra lấp lánh giữa bụi cát miền Trung với “Nhớ Máu” và “Tình Sông Núi”, có thể nói rằng từ hai bài thơ này, mà hình thành một dòng chảy mới cho dòng thơ “Hậu Thơ Mới”, chảy suốt thời chống Pháp qua thời chống Mỹ. Mới đây, tôi có ghé thăm nhà thơ Trần Hữu Thung đang điều trị tại Trung tâm chống Lao Thanh Nhàn, ông cho rằng chính các nhà thơ Liên khu Bốn từ thời chống Pháp đã góp phần làm mới thơ Việt bằng cách đưa vào những ngôn ngữ địa phương của vùng này (Độc Lập nhớ viền chơi ví chắc – Hồng Nguyên), và ông nhất quyết là đã có một “Văn phái liên khu Bốn” trong lịch sử văn học Việt Nam. Nếu như sau cuộc chiến tranh chống Mỹ, chúng ta được mùa trường ca với những đỉnh chóp, thì chính từ đầu cuộc chiến tranh này, Thái Giang và Thu Bồn, hai nhà thơ của miền Trung đã dấy lên một hình thức trường ca mới, đặc biệt là trường ca “bài ca chim Chơ – Rao” của Thu Bồn đã gây chấn động lớn, và đã giành được giải thưởng quốc tế văn học Á Phi – giải thưởng Hoa Sen. Còn trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm và “Những người đi tới biển” của Thanh Thảo, tuy không có giải thưởng nào, nhưng lại là những trường ca với sự thành công mà văn học sử  không thể bỏ qua.

Chúng ta dễ nhận thấy rằng, chính dải đất gian khổ và khắc nghiệt từng hai lần bị chém mà hai vết chém sông Gianh và sông Hiền Lương vẫn còn rỉ máu đến hôm nay, đã làm cho con người ở đây phải huy động tất cả những hồng cầu sáng tạo để tồn tại. Phải chăng nhờ thế mà thơ ca cũng được đẩy đến tận cùng của nỗi đau và niềm hạnh phúc của con người.

Nhưng chính trên dải đất này cũng đã từng có những kinh đô ánh sáng: Nam Kinh (Thanh Hóa), Phượng hoàng Trung đô (Vinh) được khởi lên mấy năm cuối thời Quang Trung (1788), cố đô Huế của vương triều Nguyễn, và xa hơn nữa là những kinh đô của vương quốcChămPa… đều là những trung tâm hội tụ và phát sáng trong lịch sử. Những nhân tài Bắc TrungNamđã từng có mặt ở đây. Nguyễn Trãi đã trở thành thi hào từ nghĩa quân Lam Sơn Thanh Hóa. Cao Bá Quát thành danh ở Huế với “Trường giang như kiếm lập thanh thiên”. Nguyễn Bính cũng phải lưu lại xứ này ba tháng mưa ròng mới có một chùm thơ chục bài bên “vườn Ngự uyển” đào sâu vào kiếp người bèo dạt. Hầu hết những nhà thơ thành danh thời chống Mỹ đều sống ở miền Trung hoặc đi qua miền Trung.

Chúng ta cũng nhìn ra ngay từ ngày hôm nay, nhiều cây bút trẻ của miền Trung đang khai phá những dòng mạch mới cho thơ ca chảy vào thế kỷ XXI. Những tên tuổi đang hình thành trên các tạp trí địa phương và đoạt các giải thưởng thơ của toàn quốc không phải là ít. Có cây bút đã thành tác giả trẻ. Có cây bút đang cựa quậy thăm dò. Và có cây bút quyết dấn thân vào đường thơ độc đạo của riêng mình. Một Trần Thị Huyền Trang, một Nguyễn Thanh Mừng ở Bình Định, hai người ở trong một nhà mà hai phong thái thơ hết sức khác nhau. Một Văn Cầm Hải ở Huế đang hình thành một ngôn ngữ lạ, dính kết, vô minh mà không phải người làm thơ trẻ nào trong nước cũng có được. Một Nguyễn Kim Huy, Đà Nẵng, giàu cảm thương, quê kiểng với một ngôn ngữ thị thành mới mẻ… Lớp trẻ đang dấy lên ở miền Trung những hy vọng cho một cuộc cách tân mới của thơ ca nước nhà trong tương lai gần.

Nếu ai đã cầm trên tay tập sách “Thơ miền Trung thế kỷ XX” dày ngót nghìn trang khổ lớn của Nxb Đà Nẵng ấn hành năm 1996 hẳn sẽ vô cùng ngạc nhiên về thành tựu thơ ca xứ này. Tên tuổi của những thi sĩ nhiều thế hệ đã hiện lên ở tập sách này cùng với hàng trăm bài thơ ghi những mốc sáng tạo thơ ca là một  minh chứng ánh sáng cho sự đóng góp của thơ miền Trung vào Ngôi đền thơ Việt Nam hiện đại. Tập sách đã làm kinh ngạc những người làm thơ và quan tâm đến thơ ca trong nước và nước ngoài. Đây cũng là một tập thơ lớn mà cả xứ Bắc và xứ Nam đều mong muốn.

Cái truyền thống hiếu học bao giờ cũng gắn liền với sáng tạo. Cái xứ sở đói nghèo và hiếu học này không chỉ đang ngày đêm tấn công vào đói nghèo lạc hậu, mà còn tấn công không ngừng vào bức tường thơ ca mà người trước đã dựng lên. Làm sao xuyên thủng bức tường để vượt lên phía trước? Đấy là câu hỏi cho thơ Việt nói chung và cho thơ miền Trung nói riêng. Tôi tin ở những người thơ miền Trung không chỉ ở Trí Tuệ mà còn cả một Khối Tình với người mẹ miền Trung của mình. Người mẹ mà một câu hát nào đó đã nhắc đến đầy thương cảm: “Miền Trung, mẹ đi chợ về năng cong đòn gánh”. Còn Hàn Mặc Tử đã nhìn thấy một cái gánh kỳ lạ khác: “Có ai gánh máu đi trên tuyết”. Đấy cũng là hình ảnh của người thi sĩ miền Trung đang làm trọng trách của mình: gánh cái gánh nặng thơ ca đi lên phía trước.

NGUYỄN TRỌNG TẠO

Đà Nẵng, 26 – 9 -1998

Theo http://nttnew.vnweblogs.com/post/14517/320995

Có một Bryan Adams nhiếp ảnh gia

hoangtuanqn | 27 August, 2011 22:22

Nữ ca sĩ Jos                                   Bryan Adams

Khi người ta bắt đầu nhớ đại khái rằng, gã đàn ông 51 tuổi đang cầm máy hí hoáy kia trông rất giống với một rocker đã từng rất nổi với bài nhạc trong phim Robin Hood, Everything I Do (I do It For You), thì tiếng loa vang lên: “Quý vị đang nghe bài hát Heaven của ca sĩ Bryan Adams, người đang đứng trước mặt quý vị và mời quý vị thưởng thức buổi ra mắt cuốn sách ảnh đầu tay, Made in Canada”.

Tiếng vỗ tay vang lên, tiếng trầm trồ cũng bắt đầu khe khẽ. Người ta ngạc nhiên đó là Bryan Adams thì ít mà dành sự ngưỡng mộ cho vẻ đẹp của những bức ảnh là phần nhiều. Đấy là thời điểm Giáng sinh 1999 và từ đó trở đi, cái tên Bryan Adams được ghi trong profile cá nhân thêm một dòng chữ nhỏ: rocker/nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp.

Rocker hay nhiếp ảnh gia?

6 năm sau, khi cuốn sách ảnh thứ 2 (American Women) dành riêng cho thời trang Calvin Klein của Bryan Adams xuất bản thì tờ Erasure đã viết thế này: “Hãy quên đi một Bryan Adams rocker-photographer. Ở gã đàn ông rocker ấy không có chỗ cho nhiếp ảnh và ở gã nhiếp ảnh ấy, rock chỉ là một phần gần như không tồn tại. Hãy bình đẳng và phải chấp nhận rằng, trong người gã luôn tách bạch cả 2 thế giới không hòa đồng”.

Có thể Bryan Adams đã từng chụp chân dung Robert Plant của Led Zeppelin, Placido Domingo, Joss Stone hay Amy Winehouse. Có thể Bryan lên sân khấu và song ca The Only Thing That Looks Good on Me Is You cùng chân dài Line Gost của Guess nhưng như anh nói: “Nhiếp ảnh đối với tôi luôn thuận chiều cùng rock nhưng cả hai là đường thẳng song song, sự tương hỗ rất ít và tôi luôn cảm thấy mình là 2 con người khác hẳn nhau”. Theo những người bạn thân của Bryan Adams, khoảng thời gian giữa các tour lưu diễn trên phạm vi toàn cầu, anh thường chỉ dành một nửa thời gian để chuẩn bị và sáng tác. Một nửa còn lại Bryan chú tâm vào nghiên cứu nghệ thuật nhiếp ảnh và thực hiện những dự án chụp ảnh mới.

Bryan - nhiếp ảnh gia đến với thế giới máy ảnh sau những cuộc trình diễn và sáng tác mệt mỏi. Ban đầu là tự thiết kế bìa album và phim tư liệu âm nhạc, sau đến anh chụp những người bạn, rồi đến những người xung quanh (Adams từng chụp nguyên Thủ tướng Anh, Tony Blair, cầm cây guitar điện Fender với tinh thần rất rock), những gương mặt khổ hạnh, những bế tắc đa chiều và cuối cùng là bước vào thế giới chân dài sau khi nhận được lời khích lệ từ tạp chí Marie Claire. Nhiếp ảnh cuốn hút chàng rocker người Canada từ từ như một người khách lạ ghé chân bên một ngôi làng ven đường. Đến và ở lại, Bryan trở thành tay máy của rất nhiều tạp chí thời trang nổi tiếng. Đó là chưa kể những tạp chí nhiếp ảnh danh giá nhất cũng có tên anh. Các bức hình của Adams được đăng tải trên khắp các tạp chí thời trang danh tiếng như Vogue, Vanity Fair, Harper’s Bazaar, Jane...

Bryan là một trong bốn nhiếp ảnh gia tên tuổi được mời chụp chân dung nữ hoàng Anh. Một tấm của anh được chọn làm tem của Canada, một tấm hiện vẫn được lưu giữ tại Bảo tàng Chân dung quốc gia tại London. Chưa kể ảnh của Adams hiện được trưng bày tại nhiều bảo tàng nhiếp ảnh nổi tiếng và được sử dụng nhiều trong các chiến dịch quảng cáo của các hãng thời trang danh tiếng.

Bryan Adams còn mở thêm chiến dịch nhân đạo mang tên Hear The World để hỗ trợ những trường hợp thiếu trợ thính và cũng để cổ súy vấn đề nhân loại nên lắng nghe nhiều hơn.

Ít ai nghĩ được rằng, thú chơi máy ảnh để giải stress của rocker lãng tử ấy lại biến anh thành một tay máy chuyên nghiệp và được yêu mến nhiều đến vậy.

Lạ

Bryan Adams yêu thích những góc nhìn lạ và bắt mắt. Khi chụp chân dung, người ta ít cảm nhận ở anh những nét truyền thần nhân vật mà như đọc được một câu chuyện bên trong. Có thể đó là một quả phụ hay một nữ nhà báo 38 tuổi đang mang căn bệnh hiểm nghèo. Đó có thể là một cú nhảy của Joss Stone với lá cờ Anh quấn quanh người tạo thành một dải màu cuốn mắt, hay tấm lưng trần đầy gợi cảm của Pink.

Adams thích chụp chân dung, với anh đó là một thế giới đầy sáng tạo, những nét biểu cảm của con người luôn cuốn hút anh, bủa vây anh như đi tìm một sự giải thoát. Dù có là trong studio hay ngoài trời không phụ kiện hỗ trợ, Adams vẫn thích ngâm mình trong những dòng suy tưởng thân phận. Đó có thể là nụ cười của Pamela Anderson, nhưng ẩn chứa bên trong là những nỗi buồn, như anh thổ lộ, có thể là căn bệnh ung thư cô từng mắc phải hay cuộc hôn nhân đổ vỡ với Tommy Lee. Bố cục gọn gàng, ánh sáng được trang trí gọn ghẽ, có cảm giác Adams là bậc thầy của sắp xếp ánh sáng. CNN nhận định: “Bryan Adams là một trong những tay máy giỏi nhất thời hiện đại cho dù anh ấy chỉ thừa nhận nhiếp ảnh là sự nghiệp thứ hai của mình sau âm nhạc”.

Bryan đã có rất nhiều cuộc triển lãm ảnh ở nhiều nơi trên thế giới, tại những bảo tàng danh tiếng nhất. Bryan Adam cũng từng triển lãm ảnh tại Liên Hiệp Quốc và từng nhận nhiều giải thưởng danh giá về ảnh tại Đức và Canada. Năm 2006, anh được trao tặng giải Vàng, giải nhiếp ảnh danh giá của German Lead Awards. Từng được tạp chí đầy uy tín Stern dành hẳn 1 chuyên đề về ảnh của anh với Pink ngay trang bìa.

Tay phê bình David Jenkins của tờ Telegraph cho rằng khó ai có thể phân thân mà thành công như Bryan Adams, một người có ảnh chụp nữ hoàng Anh được trưng bày trong Bảo tàng London, có ảnh trên hầu hết các tạp chí danh tiếng và song song đó những bài hát của mình vẫn giữ được vị trí quán quân trên các bảng xếp hạng của Anh. Một người có mặt ở đủ cuộc vui và vẫn nhận được những lời nhận xét đầy ngưỡng mộ của nữ ca sĩ Amy Winehouse. Chẳng ai khác mà chính Bryan Adams là một người phân thân giỏi nhất trong làng giải trí. Cho dù khẳng định mình độc lập trong những đam mê nhưng cần phải thấy rõ âm nhạc đã giúp những bức ảnh của Bryan Adams bay bổng hơn rất nhiều, trong mỗi bức ảnh đều có giai điệu, có câu chuyện ẩn chứa và ngắm một bức ảnh như nghe một ca khúc, có mở đầu, điệp khúc và những đoạn cao trào, không thiếu những lẩy guitar điện quen thuộc như bản chất âm nhạc Bryan Adams.

Bryan vẫn sáng tác, chuẩn bị ra album và vẫn lang thang trong thế giới nhiếp ảnh của mình. Phần lớn những nguồn thu từ ảnh anh đều góp vào quỹ bảo vệ những nạn nhân ung thư vú của cố Công nương Diana, người bạn thân thiết của anh.

Khi được hỏi nếu như album mới không bán chạy thì liệu anh có bỏ sự nghiệp âm nhạc để toàn tâm cho nhiếp ảnh? Bryan cười và trả lời rằng: “Tôi tin là nó sẽ bán chạy bởi hình bìa được chính nhiếp ảnh gia Bryan Adams chụp và mọi người sẽ mua nó chứ chưa hẳn là âm nhạc của tôi”.

Nguyên Minh

Theo  http://thethaovanhoa.vn 

Vĩnh biệt họa sĩ Vũ Giáng Hương: Một nhân cách đáng kính

hoangtuanqn | 26 August, 2011 13:40

HS Vũ Giáng Hương                        ảnh Hoàng Tuấn

Ha sĩ Vũ Giáng Hương, n Phó Giáo sư đu tiên ca gii m thut Vit Nam, mt nhà giáo ưu tú hết lòng chăm lo cho các thế h sinh viên, mt trong ba n ha sĩ trên 51 ha sĩ, nhà điêu khc nhn được gii thưởng Nhà nước v Văn hc ngh thut va mi qua đi.

Những danh hiệu cao quý trên đã thực sự ghi nhận những đóng góp của bà trong sự nghiệp đào tạo và sáng tạo nghệ thuật. Nói rộng ra, bà là một nhà lãnh đạo quản lý hội đủ uy tín của giới văn học nghệ thuật Việt Nam.

Về nghệ thuật của bà đã có nhiều người viết trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt trong tuyển tập hội họa Vũ Giáng Hương xuất bản năm 2006.

Lúc này, khi bà vừa tạ thế, tôi chỉ muốn nói về bà - là một nhân cách đáng kính, khắc nhớ trong lòng các thế hệ sinh viên, hội viên và đồng nghiệp. Thương tiếc hương hồn Phó Giáo sư, họa sĩ Vũ Giáng Hương tôi xin được viết đôi kỷ niệm về bà như một nén nhang thơm gửi tới bà.

Vũ Giáng Hương sinh trưởng trong một gia đình trí thức văn nghệ tên tuổi: Cha là nhà văn Vũ Ngọc Phan, mẹ là nhà thơ Hằng Phương. Sống trong một gia đình nề nếp gia phong có truyền thống lâu đời đã nuôi dưỡng tâm hồn và định hình một nhân cách sống trung thực, thẳng thắn và tôn trọng mọi người. Hình như số phận đã trao cho bà chăm lo cho nghệ sĩ nhiều hơn là cho mình.

Được trực tiếp học tập các họa sĩ bậc thầy: Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Trần Đình Thọ, Nguyễn Sỹ Ngọc, Nguyễn Tiến Chung… Tốt nghiệp khóa I năm 1957-1962 của trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, nay là trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, một nữ sinh viên duy nhất của khóa I chăm chỉ học tập, không bỏ một chuyến đi thực tập thực tế của toàn khóa. Còn nhiệt tình tham gia văn nghệ. Tôi còn nhớ những tiết mục đáng nhớ của bà.

Tốt nghiệp khóa I, được giữ lại trường làm công tác giảng dạy, một công việc khó khăn vất vả và có phần nguy hiểm, phải đưa một lớp học sinh sơ trung 7 năm đang ở tuổi mới lớn đi thực tập tại tuyến lửa Hàm Rồng – Thanh Hóa. Cô và trò có nhiều kỷ niệm khó quên trong chuyến đi đó.

Năm 1971, bà được vào Trường Sơn phục vụ đoàn 559, với cảm xúc một người trong cuộc, các tác phẩm Tổ thông tin Trường Sơn, Một chặng đường Trường Sơn, Bếp lửa Trường Sơn, Ven núi Trường Sơn, Dốc núi Trường Sơn, Cô gái Trường Sơn đã đi vào lòng người, đi vào lịch sử mỹ thuật hiện đại Việt Nam.

Tôi có may mắn là đồng nghiệp của bà tại trường Đại học Mỹ thuật, là một người giảng dạy và nghiên cứu phê bình mỹ thuật, được bà mời tham gia một đề tài nghiên cứu phụ nữ cấp Bộ, tôi càng hiểu bà hơn, luôn luôn tôn trọng đồng nghiệp, chắc không phải riêng tôi.

Đến Đại hội III Hội Mỹ thuật Việt Nam bà được tín nhiệm bầu làm Phó Tổng Thư ký, chuyển lên công tác trên Hội. Bộ Văn hóa có về trường lấy ý kiến thăm dò bầu người thay bà, tôi có nói: chúng tôi cần một Phó Hiệu trưởng như bà Vũ Giáng Hương, dám chịu trách nhiệm trước công việc được giao, không né tránh, được thầy trò chúng tôi tín nhiệm, hơi khó đấy?!

Bà lên Hội công tác, tôi cũng tham gia công tác Hội, nên thường xuyên cộng tác với bà, một tác phong thường trao đổi và lắng nghe các cộng sự rồi cương quyết hành động, dám chịu trách nhiệm trước công việc mình làm. Đặc biệt là trong quan điểm nghệ thuật có chính kiến riêng bảo vệ cái đúng và phê phán cái sai một cách trọng thực thẳng thắn, điều mà không phải nhà lãnh đạo quản lý nào cũng làm được. Một mặt thẳng thắn đóng góp trực tiếp với các đồng chí lãnh đạo cấp cao, mặt khác kiên quyết bảo vệ đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng của một nữ Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam, của một nữ Chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam thật đáng trân trọng.

Tôi còn được bà tín nhiệm nhờ viết lời giới thiệu và nói lời khai mạc cho ba triển lãm cá nhân. Điều đáng nói là một nhà lãnh đạo quản lý nữ bà vẫn dành thời gian cho sáng tác. Các tác phẩm công bố trong các triển lãm cá nhân, nhất là trong tuyển tập hội họa, ký họa Vũ Giáng Hương đã được giới mỹ thuật, các nhà lãnh đạo, quản lý văn hóa văn nghệ đánh giá cao.

Tôi xin trích một câu nói của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong sổ vàng của triển lãm ngày 8 tháng 11 năm 1993: “Cuộc triển lãm nội dung phong phú và đẹp quá”. Đó cũng là tiếng nói chung của mọi người về nghệ thuật Vũ Giáng Hương. Mãi đến năm 2010 tuy đã bước sang tuổi xưa nay hiếm nhiều năm, gặp tôi bà đã thông báo đã được nghỉ nên có thời gian cho sáng tác nhiều hơn, tôi sẽ làm một triển lãm cá nhân nữa, và lại nhờ anh viết lời giới thiệu nhé.

Tựu chung, nữ họa sĩ Vũ Giáng Hương, một nhà lãnh đạo nghệ thuật nữ được trao trọng trách lãnh đạo Hội Mỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam nhiều năm vẫn được giới tôn trọng và tín nhiệm, một nữ họa sĩ sống hết mình cho nghệ thuật. Và đặc biệt luôn chăm lo cho đồng nghiệp. Đó chính là một nhân cách đáng kính đi vào lòng các thế hệ sinh viên, hội viên và đồng nghiệp.

Nhà phê bình m thut LÊ QUC BO 

Ảnh Hoàng Tuấn dự liên hoan Ảnh nghệ thuật Khu vực 2011

hoangtuanqn | 15 August, 2011 22:26

Núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn)                        ảnh Hoàng Tuấn

Bình yên biển đảo                                      ảnh Hoàng Tuấn

Rêu phong                                            ảnh Hoàng Tuấn

Võ cổ truyền Bình Định                                  ảnh Hoàng Tuấn

Thắng cảnh Hầm Hô                                   ảnh Hoàng Tuấn

Lễ hội Tây Sơn                                          ảnh Hoàng Tuấn

Huyền tích kinh xưa                               ảnh Hoàng Tuấn

Ai về Bình Định...                                  ảnh Hoàng Tuấn

Ảnh Hoàng Tuấn tham gia triển lãm Ảnh nghệ thuật Bình Định 2011

hoangtuanqn | 09 August, 2011 11:25

Đường lên chùa Ông núi

Bình yên biển đảo

Khám phá Hầm Hô

Ngày hè biển Quy Nhơn

Cuộc thi ảnh “Đất võ Trời văn” năm 2011

hoangtuanqn | 08 August, 2011 13:42

Bình yên biển đảo của Hoàng Tuấn
Cuộc thi ảnh “Đất võ Trời văn” năm 2011

(TT&VH) - Sau hơn 2 tháng phát động, cuộc thi và triển lãm Ảnh nghệ thuật Bình Định năm 2011 với đề tài Du lịch Bình Định: Tiềm năng và cơ hội, đã nhận được 265 tác phẩm của 26 tác giả ghi lại nét đẹp các lễ hội, danh thắng trên quê hương “Đất võ Trời văn” của Hoàng đế Quang Trung.

Kết quả, Võ cổ truyền Bình Định của Đình Phú đoạt giải Nhất; các tác phẩm Thác nước Lương (Hồ Việt Quốc) và Lễ hội tháp Đôi (Phạm Văn Chai) cùng đoạt giải Nhì; tác phẩm Hòa tấu (Long Vũ), Cô gái Ba Na (Võ Chí Hà), Mùa vàng (Tùng Đệ) cùng đoạt giải Ba; 6 tác phẩm đoạt giải Khuyến khích. Giải ảnh đẹp Du lịch về đề tài biển, đảo thuộc về tác phẩm Bình yên biển đảo của tác giả Hoàng Tuấn.

Bảo Hoàng

Theo  http://thethaovanhoa.vn/327N20110808071333884T133/cuoc-thi-anh-dat-vo-troi-van-nam-2011.htm

Sự khác nhau giữa nghệ sĩ và người thường

hoangtuanqn | 07 August, 2011 09:20

Sự khác nhau giữa nghệ sĩ và người thường

Tất cả chúng ta đều ngưỡng mộ và yêu mến nghệ sĩ. Lý do chính là họ rất khác chúng ta về đủ mọi phương diện. Có cái khác khiến chúng ta kính phục, có cái khiến ta sợ hãi và vô số cái khiến ta chả hiểu gì cả. Sau đây, chúng tôi xin thống kê vài yếu tố để các bạn tham khảo:

1. Người thường gặp một thiên tài thì kính phục. Nghệ sĩ gặp một thiên tài thì nghi ngờ.

2. Người thường đói đi tìm thức ăn. Nghệ sĩ đói đi tìm bạn bè.

3. Người thường gặp một cô gái đẹp sẽ tán tỉnh. Nghệ sĩ gặp cô gái đẹp sẽ chờ cô ta tán tỉnh mình.

4. Khi vào xem phim, người thường nhìn lên màn ảnh, thấy đoạn nào cảm động thì khóc. Nghệ sĩ lúc đó nhìn khán giả, đếm xem có bao nhiêu đứa khóc.

5. Ra chợ mua hàng, người thường trả giá. Còn nghệ sĩ không trả giá nhưng cũng không mua.

6. Người thường tin những gì nhà báo viết. Nghệ sĩ tin những gì nhà báo thì thầm.

7. Gặp một con cọp trong rừng, người thường bỏ chạy, còn nghệ sĩ vừa chạy vừa hô “xung phong”.

8. Khi được tặng huy chương, người thường vội vã đeo. Còn nghệ sĩ không đeo nhưng hay nhắc tới.

9. Người thường mặc quần đùi được gọi là “hồn nhiên”. Nghệ sĩ mặc quần đùi được coi là “lộ hàng”.

10. Người thường khi yêu tặng hoa đi mua. Nghệ sĩ khi yêu tặng hoa hái trộm.

11. Khi bạn bè bị tai nạn, người thường đưa vào bệnh viện. Nghệ sĩ đưa vào tác phẩm.

12. Khi ly dị, người thường gọi là “chia tay”, nghệ sĩ gọi là “yêu xong”.

13. Người thường mua một bức tranh vì thấy nó đẹp. Nghệ sĩ mua một bức tranh vì chả hiểu nó vẽ gì.

14. Gặp cảnh sát giao thông, người thường đưa giấy tờ, nghệ sĩ đưa vé xem ca nhạc.

15. Sau một bữa cơm ngon, người thường xỉa răng, nghệ sĩ thở dài.

16. Ra bờ biển, người thường gọi là đi chơi. Nghệ sĩ gọi là đi sáng tác.

17. Người thường uống rượu thì giấu. Nghệ sĩ uống rượu thì khoe.

18. Gặp cướp, người thường đưa tiền. Nghệ sĩ đưa hình.

19. Người thường khoe có nhiều bạn. Nghệ sĩ khoe mình cô đơn.

20. Người thường không yêu vẫn cưới. Nghệ sĩ yêu vẫn chẳng cưới.

21. Người thường phải giàu mới sang. Nghệ sĩ phải nghèo mới vĩ đại.

22. Người thường gọi điên là điên. Nghệ sĩ thỉnh thoảng gọi điên là thiên tài.

23. Người thường thích đeo vàng bạc. Nghệ sĩ thích đeo cỏ cây.

24. Người thường thích chơi với giám đốc. Nghệ sĩ thích chơi với trẻ con.

25. Người thường gọi củ khoai là củ khoai. Nghệ sĩ gọi củ khoai là tác phẩm.

26. Người thường hét lên khi gặp kẻ cắp. Nghệ sĩ hét lên khi gặp nghệ sĩ khác.

27. Bắt được một con chim béo, người thường nấu cháo ăn vui vẻ. Còn nghệ sĩ cũng nấu cháo nhưng vừa ăn vừa khóc.

28. Người thường gọi già là già. Nghệ sĩ gọi già là trưởng thành.

29. Người thường thích nhìn đứa khác. Nghệ sĩ thích nhìn bản thân.

30. Người thường nhìn nghệ sĩ biết ngay. Nghệ sĩ nhìn người thường chả hiểu là gì.

Lê Hoàng

(Theo Thanh Niên)

 

Tiếng gọi

hoangtuanqn | 05 August, 2011 23:10

Tiếng gọi

Người bác sĩ, sau lúc chẩn đoán

bảo tôi vừa mắc bệnh thiếu trung thực

Để chữa căn bệnh này

cần phải có ánh mắt vô tư của thời trẻ tuổi.

Từ đấy, em còn nhớ không

tôi thường đến đứng chờ bên dòng thời gian bất tận

tìm cách ngược đường về những năm hai mươi tuổi

Cuối cùng, tôi đành phải đến gõ cửa nhà em

xin vay vài năm trẻ tuổi.

Em ơi em ơi, đêm nay tiếng gọi vẫn âm vang trong gió

em ơi, xin mở cửa cho tôi

xin cho tôi vay vài năm trẻ tuổi.

Lê Văn Ngăn

(Văn Nghệ TPHCM, 28/7/2011)

Hà Nội và Em*

hoangtuanqn | 02 August, 2011 22:16

Nhà thơ Nguyễn Anh Nông có mail HT tập thơ mới của anh để đọc chơi "tác phẩm nhỏ" của anh, hehe HT thấy không nhỏ chút nào, xin chúc mừng Anh và giới thiệu bạn bè 2 bài viết về Hà Nội của Anh:

Anh yêu em như yêu Hà Nội*

Anh yêu em như yêu Hà Nội

Sáng sáng chiều chiều chầm chậm mây bay

Mỗi đêm về dạo bước tay trong tay

Mùi hoàng lan, mùi hoa sữa dâng đầy

Vầng trăng Hồ Gươm, trăng Tây Hồ,

trăng sông Hồng, bịn rịn

Trăng, gương mặt em, tâm hồn em xao xuyến

Đi hết cuộc đời này anh chẳng thể quên đâu.

*

Anh không thể quên đâu mắt em cười như rót mật

Để anh say không chỉ lúc chia tay

Không chỉ lúc mình anh ngồi lặng lẽ

Biển bơ vơ sóng trắng vỗ bờ.

*

Anh yêu Hà Nội, yêu em và yêu thơ

Những vần thơ như lửa cháy trong lòng

Những bài thơ như mưa tuôn, như thác đổ

Cứ bập bùng, thổn thức tháng ngày đi.

*

Anh yêu em, yêu Hà Nội đến si mê

Dẫu đời anh như con tàu lăn bánh

Qua bao dốc, bao đèo

Qua bao miền ấm lạnh

Bến đỗ cuối cùng - anh đến - giữa tình em.

Hà Nội, 3-2006

 

* Bài thơ này đã được nhạc sĩ Trung Kim phổ nhạc, thu âm, vớI tên bài hát "Anh yêu em như yêu Hà Nội".

Hà Nội ngàn năm ơi!

Hà Nội, anh yêu em

Xao xác mùa thu

Chim bay trong nắng sông Hồng

Hồ Gươm vương vấn lời hẹn xưa

Rồng vàng gươm báu

Trả lại cho người

Trả lại cho đất cho trời

Bình yên giữ lại mấy lời yêu đương.

*

Hà Nội, anh yêu em

Nghìn năm sóng vỗ thời gian

Sông Hồng thơ thới, miên man

Tây Hồ sen nở sâm cầm hì hụp đùa vui

cùng chim chả cá

Biếc xanh. Biếc xanh.

Đáy nước hồ thu

Đỉnh trời mùa hạ

Bâng khuâng. Bâng khuâng.

Anh đi bên em chiều nay.

*

Chiều nay. Thương mến ơi!

Nghìn năm xao xuyến thế

Hàng sưa hoa nôn nao

Trắng như là thương nhớ

Bằng lăng tím, ôi chao!

Nhớ thương ngày giã biệt

Đâu biết hẹn ngày về

Tháng năm dài tha thiết.

*

Tháng năm xa đằng đẵng

Nhớ thương một vòm trời

Nhớ thương em biết mấy

Đợi chờ trong mưa bay.

*

Ai biết có ngày này

Cầm tay nhau, sánh bước

Dạo gót dọc đường thơm

Gió sông Hồng bối rối.

*

- Kìa, em ơi, Hà Nội

Gió nghìn năm bổi hổi

Nắng nghìn năm chói chang

Mưa nghìn năm tở mở

Em, hàng cây xốn xang.

Nguyễn Anh Nông

Hà Nội, 4-10-2009 

1 2 3 ... 42 43 44  Sau»
 
Accessible and Valid XHTML 1.0 Strict and CSS
Powered by vnWeblogs.